Năm 2018 – Những nỗ lực của ngành Sữa Việt Nam

Ngày 11 tháng 1 năm 2019, Hiệp Hội sữa Việt Nam đã có bản báo cáo tổng kết năm 2018 của ngành. Theo Hiệp hội Sữa Việt Nam, trong mấy năm vừa qua, ngành sữa Việt Nam luôn đạt tốc độ tăng trưởng tốt cả về sản lượng sữa, sản phẩm sữa và tổng doanh thu chung.

Năm 2018, tổng doanh thu đạt ước 109.000 tỷ đồng, mức tăng trưởng đạt 9% so với năm 2017. Giai đoạn 2010-2018, tốc độ tăng trưởng bình quân của tổng doanh doanh thu ngành sữa đạt 12,7%/năm, có tốc độ tăng trưởng cao nhất đối với sản phẩm thực phẩm có nguồn chăn nuôi. Trong tổng doanh thu của ngành sữa nước ta, riêng Vinamilk, doanh nghiệp lớn nhất ngành sữa đạt 52.630 tỷ đồng (số liệu chưa đầy đủ), chiếm 48,2%.

Bảng 1. Tổng doanh thu của ngành sữa giai đoạn 2010-2018

Các doanh nghiệp trong ngành đang không ngừng đầu tư, xây dựng, cải tiến, đổi mới kỹ thuật, công nghệ áp dụng trong các nhà máy trong những năm qua. Một số doanh nghiệp chăn nuôi và chế biến sữa lớn đã, đang và sẽ đầu tư lớn cho thiết bị, ứng dụng công nghệ có trình độ tự động hóa cao ngang tầm khu vực và thế giới nhằm cải tiến  năng suất, chất lượng, an toàn thực phẩm, đa dạng hóa sản phẩm, năng cao hiệu quả, sức cạnh tranh và tiếp cận ngày càng sâu rộng vào chuỗi giá trị sữa, sản phẩm sữa ở thị trường trong và ngoài nước.

Các doanh nghiệp tiếp tục đa dạng hóa sản phẩm, đưa ra thị trường nhiều loại sản phẩm mới như sản phẩm hữu cơ, sản phẩm dinh dưỡng đặc biệt,…Tuy nhiên, hai nhóm sản phẩm chính quyết định sự tăng trưởng của toàn ngành sữa trong nước và cũng là 2 nhóm mặt hàng quan trọng nhất là sữa nước và sữa bột. Riêng tổng giá trị trường của 2 nhóm này đã chiếm gần 3/4 giá trị thị trường. Năm 2018, sản lượng sữa tươi đạt 1.519,9 nghìn lít, sữa bột có sản lượng 138 nghìn tấn, tăng nhẹ 2,1% so với năm 2017 (nguồn Tổng cục Thống kê).

Bảng 2. Sản lượng sữa dạng lỏng và sữa bột

Theo báo cáo của Cục Chăn nuôi, Bộ Nông nghiệp – Phát triển nông thôn, số lượng đàn bò sữa trên cả nước đang tăng mạnh những năm vừa qua do các doanh nghiệp lớn tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, mở rộng quy mô chăn nuôi nhằm bảo đảm chất lượng nguồn sữa tươi nguyên liệu nhằm đưa đến tay người tiêu dùng những sản phẩm chất lượng và bảo đảm an toàn thực phẩm cũng như để phục vụ Chương trình sữa học đường Quốc gia khi sử dụng sữa tươi nguyên liệu làm nguyên liệu đầu vào chính. Nhận thức được tầm quan trọng của vùng nguyên liệu sữa tươi, nhiều doanh nghiệp đã chủ động xây dựng vùng nguyên liệu tại chỗ có liên kết sản xuất với hộ chăn nuôi bò để đảm bảo an ninh cho sản xuất sữa, tạo việc làm, giảm phụ thuộc nhập khẩu sữa, sản phẩm sữa. Thị trường sữa những năm vừa qua đã chứng kiến sự tăng tốc xây dựng mới các trang trại nuôi bò sữa quy mô lớn, nhập thêm các giống bò tốt và sản phẩm giống chất lượng cao từ Mỹ, Úc của hàng loạt doanh nghiệp sữa lớn như Vinamilk, TH True Milk, Mộc Châu Milk…

Nhiều trang trại đã được các tổ chức quốc tế cấp các chứng nhận Hệ thống trang trại đạt chuẩn Global G.A.P, VietGAHP, trang trại hữu cơ nhằm đảm bảo thực phẩm đạt đủ tiêu chuẩn về sản phẩm sạch và chất lượng quốc tế cho người sử dụng. Song song việc xây dựng trang trại các doanh nghiệp đã xây dựng kết nối với các nhà máy chế biến và thu mua sữa cho người chăn nuôi bò sữa.

Theo số liệu sơ bộ của Tổng cục Thống kê ngày 01.10.2018, cả nước có tổng đầu bò sữa năm 2010 là 128,6 ngàn con và năm 2018 tăng lên 294,4 ngàn con 2018, với tốc độ tăng đàn bình quân là 10,9%/năm. Đàn bò cho sữa thường xuyên tăng từ 100,1 ngàn con năm 2010 lên 196,7 ngàn con năm 2018 với tốc độ tăng trưởng bình quân là 8,8%/năm.

Sản lượng sữa năm 2010 đạt 306,7 ngàn tấn, năm 2018 tăng lên 936,0 ngàn tấn, tăng bình quân 15,0%/năm cho giai đoạn 2011-2018, cao hơn so với tăng trưởng đầu con (4,1%/năm), nhưng mới chỉ đáp ứng khoảng 40% nhu cầu tiêu dùng trong nước.

Năng suất sữa bình quân cả nước năm 2010 đạt 3,0 tấn/bò vắt sữa/năm tăng lên 4,76 tấn/bò vắt sữa năm 2018, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 5,7%/năm. Giá sữa các doanh nghiệp thu mua cho nông dân luôn được duy trì ổn định ở mức khá cao, từ 12.000 – 14.000 đồng/kg tùy thuộc vào chất lượng sữa của từng hộ.

Bảng 3. Số lượng bò sữa và sản lượng sữa tươi nguyên liệu giai đoạn 2010-2018 (* Số liệu thống kê đến 1/10/2018)

                            (* Số liệu tính đến ngày 1/10/2018)

Cùng với hoạt sản xuất trong nước, tình hình nhập khẩu sữa và các sản phẩm sữa năm 2018 không tăng mạnh. Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Thống kê, kim ngạch nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa năm 2018 tăng nhẹ 2,5% so với năm 2017 ước đạt 963 triệu USD.

Bảng 4. Kim ngạch nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa giai đoạn 2010-2018 (Nguồn: TCTK)

Tốc độ tăng trưởng kim ngạch nhập khẩu sữa, sản phẩm sữa tăng bình quân 3,9%/năm cho giai đoạn 2010-2018. Trong đó chủ yếu nhập từ thị trường New Zealand, tính chung 11 tháng tăng 27,39% so với cùng kỳ đạt 260,36 triệu USD. Đứng thứ hai về kim ngạch là Singapore, 11 tháng đạt 125,6 triệu USD, tăng 10,37%. Nhập khẩu từ thị trường Mỹ tuy chỉ đứng thứ ba về kim ngạch, nhưng so với cùng kỳ tăng gấp 2 lần (tức tăng 105,28%) đạt 112,32 triệu USD. Chiều ngược lại, Việt Nam giảm mạnh nhập từ thị trường Ba Lan, giảm 39,46% tương ứng với 19,16 triệu USD.

             Nguồn: Vinanet tổng hợp số liệu thống kê của TCHQ

Trong năm 2018, một số doanh nghiệp đã xuất khẩu sang 50 nước và vùng lãnh thổ, đặc biệt là sản phẩm sữa bột công thức xuất sang thị trường Hoa Kỳ. Tổng xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa ước đạt 300 triệu USD. Trong thời gian qua, được sự quan tâm của Chính phủ, các Bộ, ngành nhiều doanh nghiệp đã đầu tư mở rộng thị trường sang các nước trong khu vực và châu Âu; tiếp túc tiến hành xúc tiến thương mại để xuất khẩu sang các nước trong khu vực và Trung Quốc.

Triển vọng trong năm 2019 và những năm tới:

Dự báo trong những năm tới ngành sữa Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trưởng khoảng 9-10% và đạt mức 27-28 lít sữa/người / năm vào năm 2020.

Tiêu thụ sữa sẽ tiếp tục tăng trong vài năm tới do thu nhập của người dân tăng và sự phát triển của các chuỗi bán hàng hiện đại. Nhu cầu đối với các sản phẩm sữa có giá trị cao cũng được dự báo sẽ tăng mạnh do dân số trẻ và số lượng người thuộc tầng lớp trung lưu ở các đô thị tăng. Những đối tượng khách hàng này thường có nhu cầu trải nghiệm những sản phẩm mới, đặc biệt là các sản phẩm hữu cơ, xu hướng sử dụng sản phẩm sữa hạt. Nhu cầu tiêu thụ bơ và phô mai sẽ tăng với tốc độ nhanh chóng. Sữa đặc và sữa chua cũng là những mặt hàng sữa được cho là sẽ có lượng tiêu thụ cao.

Hàng năm, chúng ta vẫn nhập gần một tỷ USD các sản phẩm sữa chủ yếu từ New Zealand do nguồn cung trong nước vẫn còn thiếu hụt. Tuy nhiên, xuất khẩu sữa của Việt Nam bắt đầu có dấu hiệu phát triển. Điển hình là một số doanh nghiệp đầu tư, mở rộng thị trường sang các thị trường Trung Đông, Đông Nam Á, châu Âu và kể cả Hoa Kỳ và Trung Quốc.

VDA